CHÚC MỪNG NĂM HỌC MỚI!

What's time?

Tài nguyên Blog

TỪ ĐIỂN ONLINE

Tra Từ Điển

MỜI KHÁCH DÙNG TRÀ

mời thày cô dùng trà

LỊCH ÂM DƯƠNG

BAO NHIÊU NGƯỜI THĂM TÔI

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • CHÀO KHÁCH QUÝ HÔM NAY!

    2 khách và 0 thành viên

    CHAT VỚI TÔI

    • (Nguyễn Thị Thành)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy học Tiếng Anh khó nhất là...
    Ngữ pháp
    Nhớ nhiều từ vựng
    Cách phát âm cho đúng
    Cách dùng giới từ
    Kỹ năng viết

    GÓC ẢNH

    7_phut_cuoi_cung_cua_trai_dat.flv Kalimba.mp3 Maid_with_the_Flaxen_Hair.mp3 Bai_hat_What_color.flv Mauchuvietbangchuhoadung.png Happy_new_year.swf Chuc_mung_ngay_nha_giao_Viet_Nam_20_11.swf 20_11mn1.swf Yeu_nguoi_bao_nhieu.swf When_The_Love_Falls.swf 20m3.swf Mung_nam_hoc_moi.swf I_believe_my_heart.swf Namhocmoi_2.swf Hoa_senbac_Ho1.swf Me_Suoi_nguon_yeu_thuong9.swf Chuc.swf Xuan_Nham_Thin.swf Kimloan_chuc_mung_ngay_nha_giao_vn.swf Kim_loan_chuc_mung_ngay_2010.swf
    Gốc > Pleiku thân yêu >

    Lễ hội và phong tục ở Gia Lai

    1. Lễ Pơ Thi (Lễ bỏ mả)

    Hàng năm khi mùa mưa vừa chấm dứt (từ tháng 11 đến hết tháng 4 dương lịch năm sau), khi muà màng thu hoạch xong, cả hai tộc người Bahnar và Jrai ở tỉnh Gia Lai tổ chức Lễ bỏ mả và họ cùng gọi là Pơ thi. Lễ bỏ mả là lễ hội lớn nhất, đông vui và dài ngày nhất.

    Đánh chiêng tiễn đưa người chết về với tổ tiên Theo quan niệm của cư dân bản địa, người sống đều có hồn, khi người chết hồn biến thành ma. Hàng ngày, người thân của người chết phải đem cơm nước đến nhà mồ, quét dọn nhà mồ. Mục đích của lễ hội chính là tiễn đưa các tinh linh (ma mới) về với thế giới tổ tiên, về với "ma cũ". Chỉ sau khi làm Lễ bỏ mả người chết mới đi về với thế giới tổ tiên, chấm dứt mọi ràng buộc giữa người sống với người chết.
    Ngày xưa người Jrai tổ chức lễ hội bỏ mả trong 7 ngày, nay chỉ còn 4 ngày:
    Ngày thứ nhất gọi là ngày vào hội  
    Ngày thứ hai là ngày vỡ hội  
    Ngày thứ ba là ngày rửa nồi  
    Ngày thứ tư là ngày giải phóng cho người goá bụa.
    Công việc chuẩn bị khá công phu: đốn cây to làm hàng rào quanh mồ, đẵn gỗ để đẽo tượng dựng quanh nhà mồ. Cuối cùng làm nhà mồ.
    Lễ bỏ mả thường diễn ra vào buổi chiều, đó là một cuộc trình diễn lớn quanh nhà mồ. Sau khi già làng làm lễ cúng xong, thân nhân của người quá cố vào nhà mồ khóc than lần cuối với người đã chết. Tiếng cồng chiêng, tiếng trống nổi lên tiễn đưa người chết đi về thế giới bên kia, đoàn đưa tiễn gồm những người đánh khiêng và đánh trống, người đánh cồng chiêng, người đeo mặt nạ, người trình diễn những con rối, phụ nữ thì múa, họ đi vòng quanh nhà mồ biểu diễn những động tác theo tiếng nhạc. Trang phục của những người tham gia đều rất trang nghiêm và sặc sỡ.
    Có thể nói, lễ hội bỏ mả là biểu tượng nổi trội nhất, hấp dẫn nhất trong các lễ hội nói riêng và những sắc thái văn hoá của người Jrai nói chung. Bởi lẽ, Lễ hội bỏ mả là cuộc trình diễn nghệ thuật lớn nhất, mang tính chất tổng hợp trong tất cả các loại hình nghệ thuật dân gian của dân tộc Jrai. Bữa ăn bên nhà mồ là bức tranh đầy đủ về "văn hoá ẩm thực" của tộc người Jrai. Đây là bữa ăn mang tính cộng đồng lớn nhất về quy mô những người tham dự, về sự phong phú của các món ăn và cả về nghi thức tín ngưỡng đời thường. Nghệ thuật nhà mồ cũng là hình thức tổng hợp bao gồm nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau như: kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, trang trí, nghệ thuật đan. Nghệ thuật nhà mồ đề cao tính nhân văn của con người, lấy con người làm trung tâm vũ trụ. Những ngày Lễ bỏ mả thực sự là những ngày hội văn hóa tưng bừng đầy chất nghệ thuật. Trong những ngày này, người sống ăn bữa ăn cộng cảm cuối cùng với người chết để rồi lưu luyến tiễn đưa người chết về thế giới bên kia bằng bài nhạc cồng chiêng, bằng những con rối...    Sau khi làm lễ giải phóng, người sống không còn ràng buộc gì với người thân đã chết. Họ có thể lấy vợ, lấy chồng, có thể dự những cuộc vui của dân làng. Đến đây lễ bỏ mả chấm dứt, ngôi nhà mồ cũng bị bỏ luôn, không còn được chăm sóc. 
    Xét dưới góc độ tôn giáo tín ngưỡng thì Lễ bỏ mả là một nghi thức tang ma. Thế nhưng nhìn ở khía cạnh văn hóa thì Lễ bỏ mả của người Tây Nguyên mà điển hình nhất của người Jrai và người Bahnar ở tỉnh Gia Lai là đỉnh điểm của những hoạt động văn hóa truyền thống. Đương nhiên thông qua lễ hội, chủ lễ nhằm giải quyết mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thế giới tự nhiên.

     

     

      Có thể nói, Lễ bỏ mả là một trong những đặc trưng văn hóa tiêu biểu nhất của các dân tộc tỉnh Gia Lai. Đến với Lễ bỏ mả, du khách còn được chiêm ngưỡng nghệ thuật kiến trúc nhà mồ, điêu khắc tượng nhà mồ - những giá trị có một không hai của đất nước Việt Nam.

     

     2. Tượng nhà mồ

     Lên Tây Nguyên đến các làng của người Bahnar, Jrai đến những khu nghĩa địa chúng ta như lạc vào cả rừng tượng gỗ, có những ngôi mộ mới thì tượng vẫn còn nguyên vẹn nhưng có những ngôi mộ cũ thì tượng nhà mồ đã bị bỏ ngổn ngang và biến thành rừng. Đó là hình ảnh nhà mồ của người dân bản địa Gia Lai.

         Nhà mồ được dựng lên cho người chết, để hàng ngày người thân của người chết đem cơm nước đến và quét dọn như khi còn sống. Tượng nhà mồ chỉ xuất hiện khi họ tổ chức lễ bỏ mả cho người chết, tại lễ bỏ mả người ta khắc tượng và trang trí xung quanh nhà mồ. Tượng nhà mồ phản ánh cuộc sống hiện thực của người dân bản địa.

         Theo lời kể của tộc người Bahnar thì tượng nhà mồ là để đưa tiễn người sang thế giới xa xăm. Bởi vậy, khi sống cuộc đời ra sao thì khi chết đi, con người chỉ đi xa nhưng cũng là một cuộc sống không khác gì thế giới bên này. Họ có kiếp sống của sinh thành, giao hoan, có giải trí và đương nhiên, những súc vật cũng cần mang theo. Đến lễ hội Bỏ mả (lễ hội Pơ thi), chúng ta ngập trong rừng tượng. Tượng nhà mồ hiện lên sống động quanh những nhà mồ, thể hiện một nền nghệ thuật cổ, rực rỡ.

        Tượng nhà mồ có thể xếp làm 3 lớp. Đó là thế giới sinh thành con người, có bào thai trong bụng mẹ, có giao hoan, giao phối âm dương, có bụng mang dạ chửa. Con người thuở nguyên sơ, phô bầy trong dáng khỏa thân, minh chứng sức mạnh truyền đời của loài người với nét đẽo khô ráp nhưng được cường điệu những bộ phận người cần được phô trương, bởi thế đường nét mạnh mẽ, gây ấn tượng rất mạnh, rất khác thường. Nhóm tượng thứ hai là những con vật gần gũi với người như voi, chó, trâu, bò... và nhóm thứ ba là những sinh hoạt cộng đồng như thể thao, săn bắn. Nhưng khi đến nhà mồ, lớp tượng cổ sơ nhất vẫn là tiêu biểu cho nghệ thuật tượng nhà mồ Tây Nguyên.

         Nghệ nhân đẽo tượng bằng chiếc rìu cứng cáp. Chỉ trên một khúc gỗ, không phác thảo và ngày này sang ngày khác, những cây gỗ to sù sì cứ hiện dần lên những dáng dấp, hình người, những tư thế cùng những chi tiết đa dạng của người đàn ông, đàn bà, trẻ nhỏ... dường như tất cả đã nằm trong đầu nghệ nhân. Họ lặng lẽ từng nhát chắc chắn bổ xuống để nên hình, nên tượng, nên hồn.

         Những bức tượng thực đó mà cũng hư hư huyền huyền đó như chính cõi "tối tăm" âm thế. Bởi thế mà trong ngôn ngữ người Bahnar các tượng mồ được gọi là "Mêu" với người Jrai gọi là "Rup", nghĩa là hình tượng, chứ không gọi là hình ảnh, cũng không gọi rõ là tượng, nó cụ thể quá.

    Tượng nhà mồ Tây Nguyên - Nghệ thuật điêu khắc độc đáo

    Nguồn: Báo Bình Thuận

     

     

    Tượng nhà mồ là loại hình nghệ thuật điêu khắc độc đáo, một nét đặc sắc trong văn hoá cổ truyền Tây Nguyên. Các tác phẩm thuộc loại hình này được ra đời ở thời điểm lễ bỏ mả với mục đích phục vụ người chết (người Tây Nguyên gọi là hồn ma).

    Lễ bỏ mả là một lễ hội gắn liền với hầu hết các tộc người thiểu số có cuộc sống du canh, du cư trên địa bàn Tây Nguyên. Họ quan niệm rằng, chỉ khi nào lễ bỏ mả được tổ chức xong thì hồn ma mới thực sự trở về với tổ tiên, ông bà, để bắt đầu một “cuộc sống” mới ở thế giới bên kia. Kể từ đó, mối quan hệ giữa kẻ sống với người chết mới không còn. Mang ý nghĩa thiêng liêng như thế, nên lễ bỏ mả là một lễ lớn hàng năm, thu hút đông đảo người tham gia, thường diễn ra vào mùa xuân tại nghĩa địa các buôn làng.

     

    Để chuẩn bị tổ chức lễ, ngoài việc sửa sang nhà mồ, chuẩn bị lương thực, thực phẩm, rượu cần…, người ta không quên làm tượng để đặt ở nhà mồ. Ở những ngôi nhà mồ to đẹp, tượng được làm bằng những loại gỗ quý như hương, cà chít, có thể chịu được mưa nắng qua nhiều năm ở ngoài trời. Những cây hương, cà chít phải trên 10 năm tuổi (dài khoảng 2 sải tay, đường kính xấp xỉ 30cm) mới đủ tiêu chuẩn để làm tượng. Trước khi đẽo tượng, người ta phải cúng thần nhà rông, thần bến nước để xin phép.

    Tượng nhà mồ thể hiện chủ yếu bằng các mảng, khối, chứ không quá đi sâu vào chi tiết. Tư thế, thần thái của tượng thì muôn hình muôn vẻ. Người bế con, người lấy nước, người mang gùi, người ngồi khóc, người đánh trống đánh chiêng, người chia phần cơm lam, người phụ nữ khoả thân, đôi trai gái đang làm cái việc duy trì nòi giống một cách thật tự nhiên giữa thanh thiên bạch nhật… Đó chính là sự tái hiện cuộc sống thật một cách sinh động, phong phú. Các bức tượng còn trở nên ấn tượng hơn khi được tô điểm màu sắc. Đủ các màu xanh, đỏ, vàng, đen, trắng… đều có thể chế ra từ rễ, lá, vỏ cây rừng. Các nét hoa văn trên trang phục tượng cũng được phối màu rất linh hoạt.

     

    Tượng nhà mồ đa dạng cả về kích cỡ, người ta thường dùng đơn vị đo là sải tay để ước lượng. Mỗi tượng trung bình được tính bằng một sải rưỡi, trong đó có nửa sải chôn xuống đất, một sải nhô lên là thân tượng. Tất cả tượng đều được chôn bao quanh khu nhà mồ.

    Tượng nhà mồ Tây Nguyên, qua bàn tay sáng tạo của các nghệ nhân, chứa đựng những thông tin mang tính xã hội, cộng đồng sâu sắc. Chúng vừa là những tác phẩm nghệ thuật, vừa mang ý nghĩ tâm linh nhưng không hề tạo ra cảm giác cách biệt mà trái lại, rất thân quen, gần gũi với mọi người. Hầu như ở bất cứ buôn làng Gia Rai, Ba Na, Ê Đê, Xơ Đăng… nào, chúng ta cũng có thể bắt gặp những quần thể tượng nhà mồ. Vẻ quạnh hiu, u tịch của những bức tượng đã dần dần bớt đi vì du khách bốn phương ngày càng lui tới nhiều hơn để chiêm ngưỡng…

     

     

    3.Lễ hội đâm Trâu

     

        Đồng bào Jrai, Bahnar thường tổ chức lễ hội đâm trâu trong khoảng thời gian từ đầu tháng chạp năm trước đến tháng 3 âm lịch năm sau. Người Bahnar tổ chức trong 3 ngày, còn người Jrai tổ chức trong một ngày rưỡi. Lễ hội đâm trâu được tổ chức vào dịp mừng chiến thắng , mừng thắng lợi của cộng đồng, khánh thành nhà rông, lễ cầu an, lễ xoá điềm xấu, điềm gở cho cả buôn làng hoặc tạ ơn thần linh.

        Hàng năm dân làng tổ chức một lần lễ hội đâm trâu tại nhà rông, mọi phí tổn trong ngày hội do dân làng đóng góp lại. Người chủ trì ngày hội là già làng, đứng gần cột buộc trâu. Thanh niên nam nữ đánh chiêng, cồng, múa đứng sau lưng già làng. Những thanh niên có nhiệm vụ đánh trống, chiêng, cồng trong ngày hội, đầu chít khăn đỏ, mặc áo (loại áo ngày lễ dành cho con trai), đóng khố. Nữ thanh niên mặc áo phia, váy koteh (loại áo, mặc ngày hội của con gái).

     

    Quang cảnh lễ hội đâm trâu

        Khi già làng khấn xong, tiếng chiêng, cồng bắt đầu nổi lên hòa với tiếng hú của dân làng. Cảnh buôn làng trở nên rộn ràng, sinh động. Những ngày ở lễ hội đâm trâu, là những ngày hội của nghệ thuật cồng chiêng vì nhiều nhà đem bộ cồng chiêng của mình tới tham dự.

        Hết ngày thứ nhất, sang ngày thứ hai, tiếng cồng chiêng càng nổi lên rộn rã, những thanh niên khoẻ mạnh, đầu chít khăn đỏ, tay cầm khiên, gươm sáng loáng lao ra, vừa múa vũ khí, vừa đi vòng tròn để lừa dịp đâm trâu. Sau cuộc nhảy múa, họ bắt đầu đâm trâu. Khi con trâu đã tắt thở, thầy cúng mang chiêng, nồi đồng nhỏ đến hứng huyết trâu hòa với rượu, bộ phận đao kiếm tiếp tục xẻ thịt trâu, làm thịt trâu xong, họ chia đều cho từng bếp trong buôn làng. Một phần thịt trâu sẽ được dành lại để uống rượu chung tại nhà rông.

    Tây Nguyên: Đặc sắc lễ hội đâm trâu

    Nguồn: daktra.com.vn

     

    Lễ hội đâm trâu có từ rất lâu ở các tỉnh Tây Nguyên, mang đậm dấu ấn văn hóa và phong tục của đồng bào các dân tộc trên cao nguyên này. Lễ hội đâm trâu với biểu tượng “cây nêu thần” có ý tưởng mong muốn cuộc sống ấm no, hạnh phúc, trở thành một nghi lễ độc đáo trong các ngày hội của buôn làng như lễ hội mừng lúa mới, mừng nhà rông, mừng được mùa.

     

    Đó là những ngày hội thực sự mang những nét văn hóa truyền thống, thể hiện rõ yếu tố cộng đồng, tình yêu thiên nhiên, thần linh được gắn với nhau chặt chẽ, là sự kế tục truyền thống văn hóa xa xưa của người Tây Nguyên. Ngày đầu tiên của lễ hội đâm trâu là ngày hội dựng cột nêu, cột trâu là cọc hiến tế. Những người có uy tín trong làng được giao trách nhiệm mời bà con đến dự hội, già làng làm lễ cúng cột trâu, tiếng kèn Rơ-lét vang lên thánh thót hòa lẫn tiếng chiêng trầm đục. Người chủ tế đứng bên con trâu đọc lời khấn thần và khấn trâu.

     

    Ngày thứ hai lễ đâm trâu thực sự bắt đầu. Già làng cầm nắm gạo và nước sạch vãi vào mình trâu và đọc. Người ta dùng gươm chặt vào hai khuỷu chân con trâu, trời phù hộ cho dân làng khỏe mạnh, buôn làng năm sau làm ăn được mùa. Các thanh niên đầu chít khăn đỏ, tay cầm khiên, giáo nhảy múa quanh con trâu theo nhịp cồng chiêng. Tốp trai làng này nghỉ, tốp khác thay, cứ thế cho đến gần hết đêm. Sau lễ nhảy múa, những trai làng khỏe mạnh bắt đầu đâm trâu. Ai trong số đó đâm một nhát vào tim trâu chết thì cả làng hò reo tán thưởng, chiếc chiêng mẹ úp lên mặt trâu và sau đó lấy máu trâu bôi lên cây nêu, cột đâm trâu và chiếc kèn các chàng trai đang thổi. Lễ cúng tiếp theo được tổ chức bên kho lúa, với ý niệm, mọi điều xấu sẽ qua đi và gia đình sẽ no đủ cả năm.

    Cuối cùng, con trâu bị đâm sẽ được xẻ thịt chia cho các gia đình. Một phần con trâu được giữ lại để uống rượu chung tại nhà rông. Có thể nói tục đâm trâu trong ngày lễ hội quy tụ nhiều yếu tố đặc sắc của văn hóa Tây Nguyên. Mọi người đến dự lễ đâm trâu với mong muốn giải tỏa tâm linh, cầu Giàng (Trời) giúp đỡ, để được thưởng thức những nghi lễ hấp dẫn, được hát múa, đánh chiêng, uống rượu cần, cùng say sưa trong hơi ấm cộng đồng.

     

    Hiện nay, do nhiều nguyên nhân, lễ hội của nhiều vùng các dân tộc Tây Nguyên đang bị mất dần, không ít buôn làng lâu nay không còn tổ chức lễ hội đâm trâu nữa. Một số nơi khác ở Tây Nguyên, lễ hội bị “biến tướng” đi nhiều, các trai làng múa khiên, đâm trâu với những nghi lễ khác xưa, tiếng chiêng không còn giữ được âm vang như trước. Một trong những nguyên nhân dẫn đến lễ hội đâm trâu bị mai một vì không ít người quan niệm rằng, lễ đâm trâu man rợ và ảnh hưởng đến sản xuất, cần hủy bỏ… Việc nghiên cứu phong tục về văn hóa Tây Nguyên đang đặt ra nhiều vấn đề. Nên chăng có sự gạn lọc để chọn và giữ gìn phần ý nghĩa tinh thần có tính chất truyền thống của đồng bào dân tộc Tây Nguyên trong tục lệ đâm trâu, bên cạnh việc bãi bỏ những yếu tố ít nhiều mang tính bạo lực cổ xưa.

     

    Nói gì thì nói, lễ đâm trâu nói riêng và lễ hội nói chung vẫn là một sinh hoạt văn hoá có ý nghĩa tinh thần rất lớn cần được hiểu đúng ý nghĩa để có biện pháp bảo tồn phần tinh hoa, truyền thống của nó, nếu không chẳng bao lâu nữa, một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân gian sẽ biến mất.

    4. Lễ hội cơm mới  

         Các dân tộc sống  ở vùng Tây nguyên sau mùa thu hoạch sẽ tổ chức lễ ăn cơm mới, đây cũng là lễ hội đặc trưng của người  Bahnar và Jrai được  tổ  chức để tạ ơn thần lúa, mừng mùa  thu hoạch mới, cầu mong cho ruộng nương ngày càng nhiều thóc lúa. Dân làng cúng thần lúa bằng heo, gà... lễ ăn cơm mới được  tổ chức ở nhà rông hoặc nhà  riêng. Việc tổ chức lễ ăn cơm mới  tuỳ thuộc vào khả năng thu hoạch nhiều hay ít của từng gia đình. Đây là cơ hội để chủ nhà mời bà con, họ hàng, bạn bè các  buôn làng lân cận đến  chung vui, ăn uống, nhà nào đông khách được  coi là một vinh dự lớn. Trong ngày vui này người  ta đánh cồng chiêng, trống vui chơi ca hát cho đến khi tiệc tàn.

     

    5. Lễ cầu mưa

        Đồng bào Tây Nguyên thường làm lễ cầu mưa khi sắp bước vào mùa trồng tỉa. Nhưng cũng có lúc đồng bào cầu mưa khi cây trồng đang trong thời kỳ sinh trưởng mà Yang (ông trời) quên đem mưa tưới xuống rẫy nương, hay vì tức giận mà không cho mưa đến một vùng nào đó. Tuỳ theo từng tộc người, lễ cầu mưa của các dân tộc có thể được tổ chức ở từng gia đình, tổ chức theo cộng đồng. Một bộ phận cư dân có hẳn người đại diện Yang tại mặt đất chuyên lo việc cầu mưa. Thông thường lễ cầu mưa được tổ chức tại bến nước. Đồng bào đắp một đám đất bằng chiếc mâm, tượng trưng cho đám rẫy, trong đó đặt các lễ vật gồm: một ghè rượu, một chiếc gùi có treo thịt quanh vành gùi, 2 khúc lồ ô cắt ngắn đựng rượu đặt bên ngoài chân đế gùi. Ngoài ra, còn có 2 chiếc lá đựng thịt cũng đặt trên mâm đất và 3 ống nứa dựa 3 phía thân gùi tượng trưng cho những công cụ chứa nước mưa. Lễ cầu mưa do Pơtao Apui đảm nhận.
        Lễ cầu mưa là một hiện tượng tín ngưỡng dân gian, phản ánh nguyện vọng của một bộ phận cư dân nông  nghiệp. Ở Tây Nguyên nó tồn tại song hành cùng hình thái kinh tế trồng lúa rẫy và hiện chỉ còn thấy ở vùng xa, bởi sự hiện diện ngày càng nhiều các công trình thuỷ lợi có sức tưới hàng chục nghìn ha làm cho mưa không còn là nhu cầu bức thiết của dân cư, vì thế lễ cầu mưa ngày một thưa vắng dần, chỉ còn là mối quan tâm của những người yêu mến nền văn hoá cổ truyền Tây Nguyên.                                                                    (Theo Tây Nguyên trên đường phát triển)

     6. Lễ cúng bến nước 

         Đây là một trong những hình thức sinh hoạt  văn hoá cộng đồng mang nhiều ý nghĩa tích cực trong đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc Êđê ở Tây Nguyên.

         Nếu Lễ cầu mưa diễn ra hàng năm vào đầu mùa trồng tỉa (khoảng tháng 4 dương lịch), thì Lễ cúng bến nước được tổ chức hằng năm sau mùa thu hoạch để cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no hạnh phúc.

        Theo đúng phong tục, buổi lễ cúng bến nước thường diễn ra như một ngày hội của buôn làng. Sau một hồi chiêng ngân dài sâu thẳm và trang nghiêm, lễ cúng bến nước được bắt đầu bằng lễ cúng ông bà tổ tiên để thông báo cho ông bà về sự có mặt đông đủ của con cháu trong làng, tiếp đó thầy cúng mới làm lễ cúng Yang cầu mưa. Kết thúc buổi lễ những cô gái trong trang phục truyền thống, lưng đeo gùi, cùng mọi người theo bước chân thầy cúng về bến nước đầu làng. Những bầu nước mát ngọt được những người con của buôn làng gùi về trong niềm vui hân hoan. Mọi người lại quây quần bên nhau uống rượu cần trong âm hưởng rộn ràng của cồng chiêng Tây Nguyên.

                                                                             (Theo Tây Nguyên trên đường phát triển)

    Nét kiến trúc độc đáo của Nhà Rông Tây Nguyên

    Nguồn: Cinet

     

    Nhà Rông Tây Nguyên không khác biệt nhiều so với nhà rông của các dân tộc thiểu số dải Trường Sơn. Nóc nhà có 2 mái nơi chỏm đầu dốc có một đôi sừng. Quan sát thật kỹ mới thấy những chi tiết khác với nhà ở: Chạy dọc trên sóng nóc nhà là một dải trang trí đặc biệt.

    Sàn nhà thường được ghép bằng những tấm đan bằng tre lồ ô     nứa hoặc cây giang. Giữa nhà có một hàng lan can chạy dọc. Hàng lan can này chính là chỗ dựa của những ché rượu cần khi làng tổ chức lễ hội. Hoa văn trang trí trên vách có 2 màu đỏ và xanh. Người Băhnar thường sử dụng cặp sừng trâu cây cột ở gian chính giữa được chạm khắc tinh vi (s’drang mặt nar-mặt Trời) sao tám cánh hình thoi chim người... Đây là công trình kiến trúc và nghệ thuật tập thể của cả cộng đồng dân làng.                              

    Khi lập một làng mới tức là sự kiện trọng đại nhất trong đời sống cộng đồng những người già nhất trong làng từng trải và hiền minh nhất gắn bó và nhiều kinh nghiệm nhất về núi rừng là pho sử sống của cộng đồng thay mặt làng đi tìm đất  chọn vị trí đẹp nhất cho làng. Theo lưu truyền thì việc xây dựng nhà Rông phải tuân theo nghi thức trang trọng. Từ khi chuẩn bị làm nhà già làng tụ tập tất cả những người tài giỏi nhất trong làng để hội bàn. Họ bỏ ra hàng tuần thậm chí hàng tháng để chọn nơi dựng nhà Rông. Nơi dựng nhà Rông phải cao ráo thoáng mát về mùa nắng ấm áp về mùa mưa nằm ở trung tâm của làng đi từ các con đường về từ xa phải nhìn thấy mái nhà Rông. Khu đất ấy phải bằng phẳng rộng đủ để tập trung số người ít nhất là gấp ba lần số người của làng.  

    Ngày vào rừng chọn gỗ được tổ chức rất chu đáo. Trước đó 9 ngày 9 người được già làng chọn để "trao đổi" về hướng đi vào rừng. Ngày hôm ấy già làng sẽ tổ chức một lễ nhỏ có thịt gà cơm nếp thầy mo đến cúng. Tất cả những gì bàn bạc đều  được các thành viên giữ kín cho đến trước khi xuất phát 3 ngày. Sau 6 ngày kể từ khi "họp" mỗi thành viên phải chọn thêm một hai người có sức khỏe nhanh nhẹn tháo vát cùng đi với đoàn. Để chuẩn bị cho chuyến đi tất cả những thành viên đều phải tự lo tư trang lương thực đủ dùng trong 9 ngày. Ngày đầu tiên vào rừng khi tìm được cánh rừng có nhiều gỗ tốt  cả đoàn dừng lại thợ cả cùng 8 người nữa vác rìu chọn một cây to cả 9 người đứng vòng quanh giơ rìu hú 9 tiếng lớn.                           

    Sau đó  mỗi người chặt 9 nhát vòng quanh cây rồi về nơi tập kết của đoàn nghỉ ngơi. Từ ngày hôm sau cả đoàn bắt đầu khai thác khi có đủ 4 cây cột góc cho ngôi nhà thì về làng. Ngày dựng nhà Rông là ngày hội của làng thường là trong tháng Mười âm lịch. Sau bài cúng tập thể đầu tiên của 8 già làng bên cái lễ có gà và 12 ché rượu cần tiếng của dàn chiêng 12 chiếc bắt đầu nổi lên tốp múa gồm 12 cô gái mặc trang phục dân tộc nhập vào cùng đội chiêng để "xoang" qua cúng khi bài cúng thứ năm  bài cuối cùng kết thúc.                                                                                                               Nhà Rông thường dài khoảng 10m rộng hơn 4m   cao 15 - 16m nhưng có những ngôi chỉ cao 7-8m... Tính đa dạng trong kiến trúc của mỗi dân tộc ở Tây Nguyên còn là ở kết cấu của ngôi nhà. Nhà Rông của người Tây Nguyên  không dùng đến sắt thép. Các chỗ nối chắp đều được chặt đẽo cẩn thận rồi dùng mây    lạt tre để buộc.Từng mối buộc của các dân tộc cũng khác nhau. Cầu thang lên Nhà Rông các dân tộc thường đẽo 7 đến 9 bậc. Trên đầu cầu thang của mỗi dân tộc khác nhau. Người Ba Na là hình ngọn cây rau dớn người Ja Rai là hình quả bầu đựng nước người Xê Đăng Jẻ Triêng là hình núm chiêng hay mũi thuyền có Nhà Rông trên nút đầu của cầu thang lại tạo dáng hình ngực thiếu nữ... Kể từ ngày Nhà Rông được khánh thành con trai làng chưa vợ đều phải đến đây ngủ để bảo vệ. Bởi vậy kiến trúc dân gian của nhà Rông hết sức độc đáo và mỗi dân tộc mang một kiểu cách khác nhau. Tất cả được xây dựng bằng đôi tay tài hoa bằng cả trí tuệ và sức lực của cộng đồng. Nhà Rông gắn chặt với tâm lý tình cảm và sinh hoạt xã hội tôn giáo của đồng bào Tây Nguyên. Xa nhà Rông thì nhớ đến với nhà Rông thì vui. Nhà Rông là trái tim của buôn làng đời đời không thể nào xoá nhoà trong tâm trí người Tây Nguyên.

    Hai loại nhà Rông xuất hiện ở Tây Nguyên gồm nhà Rông trống (đực) và nhà Rông mái (cái). Nhà Rông trống tiếng Jrai gọi là Rông tơ nao có mái to cao chót vót. Có nhà cao đến 30m. Nhà Rông trống được trang trí rất công phu. Nhà Rông mái được gọi là Rông Ana nhỏ hơn có mái thấp. Hình thức bên ngoài và bên trong đơn giản hơn.Trên những vì kèo được trang trí những hoa văn có màu sắc rực rỡ mang tính tôn giáo thờ phụng những sự tích huyền thoại của dũng sĩ thuở xưa những thú vật được cách điệu những vật những cảnh sinh hoạt gần gũi với cuộc sống buôn làng. Nổi bật trong trang trí nhà rông là hình ảnh thần mặt trời chói sáng. Nhà rông càng to đẹp thì càng chứng tỏ buôn làng giàu có            mạnh mẽ.                                                                                 

    Nhà Rông là một trong những di sản văn hoá rất tiêu biểu gắn với lịch sử cư trú lâu đời của các dân tộc Tây Nguyên với kĩ thuật đơn giản kiến trúc khá đa dạng tạo nên vẻ đẹp đặc sắc trước hết ở kiểu dáng nó không chỉ  hấp dẫn bởi kiểu dáng đẹp cùng các hình thức trang trí đặc sắc mà còn đặc biệt ở tập quán sử dụng; nó hàm chứa những giá trị tinh thần và ý nghĩa tâm linh đặc biệt vừa thiêng liêng cao quý vừa đậm đà sâu lắng trong mỗi thành viên cũng như toàn thể cộng đồng.                                            

    Nhà Rông là một thiết chế văn hóa tiêu biểu độc đáo có ý nghĩa quan trọng trong văn hóa tinh thần trong đời sống xã hội và trong tín ngưỡng tâm linh của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Nó là một di sản quí cho hôm nay và mai sau. Giữ được nhà Rông giữ được "trái tim" của làng nơi cất giữ những huyền thoại trong sử thi cổ cũng là nơi nhen nhóm lửa sáng tạo những "huyền thoại mới" đồng bào các dân tộc Tây Nguyên sẽ giữ được cho mình một đời sống tinh thần phong phú và đa dạng bắt rễ sâu vào truyền thống nhưng cũng vươn tới những giá trị mới phù hợp với xu thế phát triển đi lên của xã hội.

    Giữ gìn vùng văn hóa Tây Nguyên

    Nguồn: Báo Nhân Dân

     

    Ðang vào cuối mùa khô, nhưng những bông dã quỳ cuối mùa vẫn cứ vàng rực trên mọi ngả đường, trên mọi triền đồi vực suối Tây Nguyên. Nếu tinh ý lắng nghe, sẽ thấy có tiếng chiêng thầm thì trong gió. Lúc khoan lúc nhặt, khi tỏ khi mờ, tiếng chiêng len qua các ngọn núi, lách qua các tán rừng, tới các làng gần buôn xa, tới người đang ở trong nhà, tới người đang lui hui trong rẫy...

    Tiếng chiêng ấy vẳng vào thinh không, nhất là vào những đêm trăng sáng, nó vang tới tận những đám mây ngũ sắc đang lửng lơ giữa bầu trời lồng lộng gió và vằng vặc trăng...

    Mùa khô là mùa người Tây Nguyên thường mở hội. Và tiếng chiêng là những âm thanh đầu tiên báo cho Yàng, cho thần sông thần núi, thần nước thần lửa, báo cho người gần khách xa biết rằng làng đang mở hội.

    Từ bao đời nay những âm thanh của các bộ cồng chiêng Gia Rai, Ba Na, Xê Ðăng, Ê Ðê... đã hòa chung với âm thanh của gió núi, của cây rừng, của suối nước, của buôn, làng...

    Người Tây Nguyên lấy bộ chiêng làm thước đo tài sản. Các bộ cồng chiêng là tài sản vật chất quý báu nhất của một gia đình hay một tộc họ. Và âm thanh cồng chiêng là một nhân tố không thể thiếu, một bộ phận hữu cơ trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương.

    Từ xa xưa cồng chiêng đã giữ chức năng thông tin. Có việc gì, có chuyện vui chuyện buồn, cần thông báo giặc giã hay mùa màng bội thu... đều dùng tiếng chiêng. Cồng chiêng đón em bé trong tiếng khóc chào đời. Cồng chiêng đưa nhịp cho nam nữ thanh niên nhảy múa vui chơi trong ngày hội mùa, rộn rã trong lễ đâm trâu, thủ thỉ trong lời nhắn gửi với thần linh, rồi bi ai tiễn đưa vong hồn về nơi ông bà, đất mẹ...

    Cũng phải nói rằng, không phải lúc nào cũng có thể mang cồng chiêng ra đánh. Phong tục quy định, chỉ đánh chiêng trong những ngày lễ, hội cổ truyền với vị trí là một trong những thành phần của nghi thức hành lễ.

    Như người Ba Na quy định rất rõ ràng, chỉ được đánh chiêng trong các dịp sau: Một là, đâm trâu mừng chiến thắng quân sự. Ðây là hình thức hiến tế khá cổ xưa.  Lễ này diễn ra trong không khí sôi động, hào hứng của cả cộng đồng. Bài chiêng tơđrăng kết hợp với hai điệu múa khiêl và loong deh làm thành một tổng thể nghệ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng hình tượng thượng võ, biểu dương tinh thần dũng cảm, ý chí chiến đấu, sự thông minh và khả năng võ nghệ của các chàng trai Ba Na.

    Hai là, lễ đâm trâu tạ thần cầu an, gọi là tơ nơl. Nếu có điều gì xảy ra với dân làng như dịch bệnh, mất mùa, cháy làng, bị xâm lược... bà con đều cầu cứu thần linh. Và khi tai qua nạn khỏi thì làm lễ cúng cảm ơn, trả ơn thần linh. Con trâu chính là vật tế tượng trưng và cồng chiêng thì đầy âm sắc vui tươi.

    Ba là, lễ Sa mơk, tức lễ ăn mừng lúa mới. Ðây là lễ có thể tổ chức ở từng gia đình, nhưng thường thì tổ chức cả làng vào một ngày, rất vui. Ðây là ngày tạ ơn nữ thần lúa có tên là Yàng Sơri. Và cuối cùng là lễ A Tâu (tang ma). Lễ tang chỉ được khởi hành khi điệu chiêng Atâu cất lên cùng với tốp múa đưa người chết ra nhà mồ. Nhạc chiêng Atâu nặng nề, ảm đạm, buồn bã như một bài hát buồn lắng đọng ngân vang trong đêm, xoáy vào trái tim người sống...

    Từ sau giải phóng đến nay, với một chính sách đúng mực trong việc vừa gìn giữ vừa phát triển, văn hóa Tây Nguyên đã có những động thái phát triển tích cực. Người Tây Nguyên lấy làng làm đơn vị chính, là trung tâm, ngoài làng ra là rừng, là vũ trụ. Vì thế, làng là nơi biểu hiện rõ nhất, đậm đặc nhất của truyền thống văn hóa Tây Nguyên.

    Mới nhìn thì các làng Tây Nguyên đều có vẻ giống nhau. Song khi đi sâu tìm hiểu thì mới biết mỗi dân tộc tùy tính cách của mình mà lập làng theo kiểu riêng.

    Như làng của người Xê Ðăng, bao giờ cũng trên chót vót núi cao hiểm trở, như một pháo đài khác hẳn phong cách hài hòa, trầm tĩnh, thanh bình của người Ba Na. Bởi cái tính cách ấy mà cái làng của người Ba Na cũng khác với các làng của người Gia Rai, Ê Ðê, Xê Ðăng, MNông...

    Plei Bông (làng Bông) là một ngôi làng tiêu biểu của người Ba Na. Nó thuộc xã Ayun, huyện Mang Yang (Gia Lai). Làng có gần 50 nóc nhà nằm trong một thung lũng cách quốc lộ 19 gần bảy km.

    Ðây cũng là nơi sinh sống của một trong những người phụ nữ dệt thổ cẩm giỏi nhất Tây Nguyên, tên chị là Siu Khang. Rìa làng Bông, thoải một con dốc là các giọt nước. Phía dưới các giọt nước là cánh đồng lúa nước xanh ngát.

    Giọt nước Plei Bông đẹp mê hồn. Mỗi giọt nước ẩn dưới một gốc đa cổ thụ rợp bóng mát. Nó như bờ ao gốc gạo lũy tre làng của người Kinh, có thể bây giờ ý nghĩa vật chất của nó không còn bao nhiêu nữa vì hệ thống nước sạch đã về từng nhà, nhưng nó là ký ức, là tâm thức, là tuổi thơ, kỷ niệm của từng cư dân trong cộng đồng. Chiều chiều nam thanh nữ tú ra đây lấy nước tắm giặt, gặp nhau hẹn hò tình tự... Nó trở thành một góc không thể thiếu trong tâm hồn mỗi người. Nó cũng neo giữ lại cái phần hồn làng tươi xanh dân dã bất diệt mà trong thời buổi hiện đại ngày nay đang có nguy cơ "phố hóa"...

    Trong một ngôi làng người Tây Nguyên, nhà rông là một thành tố không thể thiếu. Nhà rông là nơi sinh hoạt cộng đồng của làng. Ðêm đêm, thanh niên và những người đàn ông chưa vợ, góa vợ thường lên nhà rông ngủ.

    Phụ nữ không được phép lên nhà rông. Nếu họp làng trong nhà rông thì phụ nữ phải ngồi dưới sân hoặc dưới gầm sàn nhà rông để dự. Nhà rông là nơi thờ tự, cúng bái, rất linh thiêng nhưng lại cũng gần gũi.

    Trong nhà rông có hai vật không thể thiếu là bếp lửa và gói vật thiêng. Mái nhà rông được trang trí rất đẹp với các hoa văn sặc sỡ và nhiều phù điêu, tượng gỗ cách điệu, đặc biệt là hình rau dớn và mặt trời. Bà con quan niệm đây là nơi các vị thần trú ngụ.

    Người Tây Nguyên cho rằng, các Yàng luôn ngự trên nóc nhà rông để phù trợ cho làng. Vì thế khi cúng Yàng, bà con mượn nóc nhà rông để tiếp cận và thỉnh nguyện các đấng các bậc tối cao. Trước sân là cây nêu ngũ sắc cao vút, cũng lại là một khát vọng của nhân dân vươn lên trời xanh, mong muốn hòa nhập với vũ trụ.

    Nhìn những nhà sàn để ở thường lúp xúp, nghiêng nghiêng trên triền đồi hoặc ven suối trông như một đàn gà con thì nhà rông, trong một vị thế đắc địa, vững chãi như gà mẹ giữa bầy gà con ấy. Ðầm ấm và sum họp. Chở che và tin cậy. Nó là trung tâm nhưng cũng dàn đều. Nhà rông còn hài hòa với trời, với đất, với gió, với nắng, với mưa.

    Văn hóa Tây Nguyên là một thực thể. Nó đang trong tiến trình hòa nhập với văn hóa đương đại của cả nước. Nền văn minh nương rẫy ở vùng đất này đang bước đầu có sự giao thoa với nền văn minh lúa nước.

    Văn hóa của một dân tộc được đúc kết từ hành trình sống của dân tộc ấy.

    Văn hóa Tây Nguyên mang đậm dấu ấn cư dân của một vùng đất. Nó cũng là khởi nguyên cho tương lai. Và vì thế, hiểu sâu sắc về nó, tôn trọng nó... chính là tiên lượng và tôn trọng tương lai...

    (Tổng hợp từ Báo điện Tử Gia Lai)
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Thị Thành @ 13:23 10/05/2009
    Số lượt xem: 4373
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    DANH NGÔN TÌNH YÊU

    MỘT NỤ CƯỜI BẰNG MƯỜI THANG THUỐC BỔ